Monthly Archive Tháng Năm 2018

ByTamKhoa

THÔNG BÁO NGHỈ DU LỊCH NHÂN VIÊN HẰNG NĂM

Công Ty Cổ Phần Công Nghệ Tam Khoa trân trọng thông báo đến Quý khách hàng, các đối tác và toàn thể nhân viên lịch nghỉ về việc nhân viên du lịch hằng năm:

– Ngày bắt đầu nghỉ: 26/05/2018 (Thứ 7)

– Ngày bắt đầu làm việc lại: 28/05/2018 (Thứ 2)

Chúc Quý khách, đối tác, và toàn thể nhân viên Công ty một ngày cuối tuần vui vẻ và hạnh phúc

Trân trọng thông báo!

Công Ty Cổ Phần Công Nghệ Tam Khoa

ByTamKhoa

Chữ ký không giống mẫu bị phạt 10 triệu đồng: Hiểu sao cho đúng?

Hiện đang có nhiều cách hiểu khác nhau về quy định xử phạt liên quan đến chữ ký trên chứng từ thuộc Nghị định 41/2018/NĐ-CP.

Nghị định 41/2018/NĐ-CP được Chính phủ ban hành ngày 12/3/2018 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế toán, kiểm toán độc lập. Hiệu lực của Nghị định từ 1/5/2018.

Trong đó, đáng chú ý điều 8, khoản 2d cho biết sẽ phạt tiền từ 5 – 10 triệu đồng đối với chữ ký trên chứng từ kế toán của một người không thống nhất hoặc không đúng với sổ đăng ký mẫu chữ ký.

Điều khoản này đã nảy sinh nhiều cách hiểu khác nhau, trong đó, nhiều ý kiến cho rằng buộc phải ký giống 100%, nếu sai khác là bị phạt. Theo đó, quy định trở nên bất hợp lý, gây khó khăn đối với doanh nghiệp.

Trao đổi với Trí Thức Trẻ, ông Phạm Công Tham, Phó Chủ tịch thường trực Hội kế toán hành nghề Việt Nam, cho biết thông thường kế toán viên có hai chữ ký, gồm: chữ ký đầy đủ và chữ ký tắt.

Chữ ký tắt được sử dụng khi xử lý các công văn trong cơ quan, còn chữ ký đầy đủ là chữ ký giao dịch các chứng từ kế toán, báo cáo kế toán lưu gửi. Chữ ký đầy đủ chính là chữ ký được đăng ký và có tính pháp lý.

Ông cho biết kế toán viên thường rèn luyện để các chữ ký ký ra đảm bảo độ giống nhau. Tuy nhiên, về tính tuyệt đối là không thể. “Các chữ ký có thể xê dịch chút ít”, ông nói.

Do vậy, ông cho rằng quy định tại Nghị định 41 không phải hiểu cứng nhắc là chữ ký phải giống 100% trên các chứng từ kế toán. Khi giao dịch, để kiểm tra chữ ký, thông thường, người ta xét đến số lượng nét, cách móc lên – xuống… để so sánh chứ không đòi hỏi sự giống nhau tuyệt đối.

Ông cũng nói thêm rằng việc này không gây khó khăn gì đối với hoạt động của doanh nghiệp.

Ông Vũ Đức Chính, Cục trưởng Cục quản lý giám sát kế toán, kiểm toán (Bộ Tài chính) cũng có trao đổi với Trí Thức Trẻ xung quanh vấn đề này.

Theo ông Chính, việc quy định chữ ký trên chứng từ kế toán của một người phải thống nhất đã được nêu rõ trong Luật Kế toán 2003, được kế thừa trong Luật Kế toán 2015. Điều này xuất phát từ thực tiễn, từ việc cần phải đảm bảo tính hợp pháp của chứng từ kế toán, tránh rủi ro về việc giả mạo chữ ký trên chứng từ, nhất là đối với các chứng từ kế toán tham gia vào quy trình giao dịch, thanh toán.

Việc đăng ký chữ ký trong một số trường hợp nếu có quy định là đảm tính an toàn cho chính các đơn vị có giao dịch kinh tế. Điều này giúp cho đơn vị có căn cứ kiểm tra và xác minh tính pháp lý của chứng từ kế toán trước khi giao dịch, thanh toán và ghi sổ kế toán, và quan trọng hơn là đảm bảo an toàn tiền và tài sản của chính đơn vị đó.

Ví dụ, tại một số đơn vị có giao dịch thường xuyên với khách hàng (như ngân hàng), khách hàng được yêu cầu phải đăng ký mẫu chữ ký của những người ký trên chứng từ giao dịch. Nếu chữ ký không đúng mẫu đã đăng ký, thì cơ quan này sẽ trả lại chứng từ, khách hàng phải lập lại chứng từ khác, đảm bảo chữ ký thống nhất theo mẫu đã đăng ký với đơn vị này.

Việc so sánh chữ ký khi giao dịch là định tính trên cơ sở nhận xét của giao dịch viên, họ nhận thấy đây có thể không phải chữ ký của người đã đăng ký, nên không thể yên tâm thực hiện giao dịch.

Tuy nhiên đối với chữ ký điện tử, mỗi chữ ký được cấp cho cá nhân, tổ chức một cách duy nhất, nên nếu đã không thống nhất, hoặc không đúng thì là chữ ký sai hoàn toàn, chứ không thể nói là gần giống.

Vì vậy, quy định chữ ký phải thống nhất không ảnh hưởng đến giao dịch có sử dụng chữ ký điện tử, vì nếu không sai thì việc thống nhất là đương nhiên.

Ông Chính khẳng định, không có chuyện bắt buộc một người phải ký các chứng từ với chữ ký 100% giống y nhau. Thực tế, đối với mỗi người chúng ta, tại các thời điểm khác nhau chữ ký có thể không hoàn toàn giống hệt nhau.

“Chính vì vậy, trong Điều 8, Nghị định 41 không sử dụng cụm từ chữ ký ‘không giống nhau’, mà sử dụng cụm từ ‘chữ ký không thống nhất hoặc không đúng ….’”, ông nói.

“Không thống nhất” và “không đúng với đăng ký”, theo giải thích của ông Chính được hiểu là khi nhìn vào chữ ký người đọc không nhận ra, không thể khẳng định đây là chữ ký đã được đăng ký.

Như vậy, quy định tại Nghị định 41 không nên hiểu cứng nhắc và thực tế không phải là nếu chữ ký trên các chứng từ kế toán không giống y nhau (lúc lên cao, lúc nghiêng, lúc hơi ngắn, có nét hơi nhạt, … ) so với đăng ký sẽ bị xử phạt.

Việc xử phạt vi phạm hành chính, nếu có, được hiểu là đối với việc cố tình thực hiện giao dịch với chứng từ có chữ ký không thống nhất hoặc không đúng với với mẫu đăng ký (nếu có quy định).

Người có thẩm quyền lập biên bản vi phạm sẽ xem xét thực tế của quy trình nghiệp vụ, để quyết định có là vi phạm đến mức cần xử phạt hay không trước khi quyết định lập biên bản vi phạm hành chính.

Cục trưởng Cục trưởng Cục quản lý giám sát kế toán, kiểm toán cho rằng quy định này sẽ nâng cao trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân có liên quan, hạn chế sai phạm khi lập chứng từ giao dịch, đảm bảo các hoạt động kinh tế tránh được các rủi ro, sai sót từ khâu lập chứng từ kế toán.

“Việc phạt mà theo mọi người lo ngại là một người cứ ký trên các chứng từ kế toán không giống y nhau là bị phạt thì hoàn toàn không phải”, ông Vũ Đức Chính một lần nữa nhấn mạnh.

Chữ ký không giống mẫu bị phạt 10 triệu đồng

Đức Minh

Theo Trí thức trẻ

ByTamKhoa

Chữ ký không giống mẫu bị phạt 10 triệu đồng

Theo Nghị định 41/2018/NĐ-CP trên các chứng từ kế toán, nếu chữ ký không giống mẫu – không thống nhất hoặc không đúng với sổ đăng ký mẫu chữ ký – sẽ bị phạt từ 5 – 10 triệu đồng.

Nghị định vừa được Thủ tướng Chính phủ ký, ban hành ngày 12/3/2018, quy định về hành vi vi phạm hành chính, thời hiệu xử phạt, hình thức xử phạt, mức xử phạt, các biện pháp khắc phục hậu quả, thẩm quyền lập biên bản và thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế toán, kiểm toán độc lập.

Theo đó, kể từ ngày 1/5/2018, Nghị định số 41/2018/NĐ-CP về việc quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế toán, kiểm toán độc lập có hiệu lực thi hành.

Nghị định gồm 5 Chương, 73 Điều áp dụng với cá nhân tổ chức trong nước và nước ngoài có hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế toán, kiểm toán độc lập; Hộ kinh doanh, tổ hợp tác vi phạm các quy định của Nghị định này bị xử phạt như đối với cá nhân vi phạm; Tổ chức là đối tượng bị xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế toán, kiểm toán độc lập theo quy định của Nghị định; Người có thẩm quyền lập biên bản, xử phạt vi phạm hành chính, cơ quan tổ chức, cá nhân khác có liên quan.

Theo Nghị định, quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế toán, kiểm toán độc lập, mức phạt tiền tối đa đối với một hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế toán, kiểm toán độc lập là 50 triệu đồng đối với cá nhân và 100 triệu đồng đối với tổ chức.

Trong đó, với lĩnh vực kế toán, về xử phạt hành vi vi phạm quy định chung về pháp luật kế toán, phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

– Lập chứng từ kế toán không đủ số liên theo quy định của mỗi loại chứng từ kế toán;

–  Ký chứng từ kế toán khi chưa ghi đủ nội dung chứng từ thuộc trách nhiệm của người ký;

–  Ký chứng từ kế toán mà không đúng thẩm quyền;

– Chữ ký của một người không thống nhất hoặc không đúng với sổ đăng ký mẫu chữ ký;

–  Chứng từ kế toán không có đủ chữ ký theo chức danh quy định trên chứng từ;

–  Không dịch chứng từ kế toán bằng tiếng nước ngoài ra tiếng Việt theo quy định;

–  Để hư hỏng, mất mát tài liệu, chứng từ kế toán đang trong quá trình sử dụng.

Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

– Giả mạo, khai man chứng từ kế toán nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự;

– Thỏa thuận hoặc ép buộc người khác giả mạo, khai man chứng từ kế toán nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự;

–  Lập chứng từ kế toán có nội dung các liên không giống nhau trong trường hợp phải lập chứng từ kế toán có nhiều liên cho một nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh;

–  Không lập chứng từ kế toán khi nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh;

–  Lập nhiều lần chứng từ kế toán cho một nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh;

– Thực hiện chi tiền khi chứng từ chi tiền chưa có đầy đủ chữ ký của người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về kế toán.

Về xử phạt hành vi phạm quy định về chứng từ kế toán, phạt từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với các hành vi: Mẫu chứng từ kế toán không có đầy đủ các nội dung chủ yếu theo quy định; tẩy xóa, sửa chữa chứng từ kế toán; ký chứng từ kế toán bằng mực màu đỏ, mực phai màu; ký chứng từ kế toán bằng đóng dấu chữ ký khắc sẵn; chứng từ chi tiền không ký theo từng liên.

Chữ ký không giống mẫu bị phạt 10 triệu đồng: Hiểu sao cho đúng?

Y Vân

Theo Nhịp sống kinh tế

ByTamKhoa

Khoảng 260.000 DN và 110.000 hộ kinh doanh áp dụng hóa đơn điện tử

Sau một thời gian triển khai thí điểm áp dụng hóa đơn điện tử (HĐĐT) có thể nhận thấy, những ưu điểm nổi bật đó là tiết giảm chi chí, phòng chống được gian lận, đồng thời nâng cao hiệu quả công tác quản lý. Chính vì vậy, Bộ Tài chính đã đề xuất ban hành Nghị định về HĐĐT để tạo hành lang pháp lý, triển khai nhân rộng trong toàn quốc.

Cần thiết phải có nghị định về HĐĐT 

Theo thống kê của Tổng cục Thuế, trong năm 2017 Tập đoàn Điện lực đã sử dụng 289 triệu HĐĐT; Tập đoàn Bưu chính Viễn thông (VNPT) khoảng 96 triệu hoá đơn/năm; Tập đoàn viễn thông Quân đội (Viettel) và 63 chi nhánh tỉnh, TP đã sử dụng trung bình 3,5 triệu số hóa đơn/tháng, tương đương với 42 triệu số/năm. Số lượng hóa đơn điện tử của Tổng công ty hàng không Việt Nam là 2 triệu hóa đơn/năm. Việc triển khai hóa đơn điện tử và thí điểm áp dụng hóa đơn điện tử có mã xác thực của cơ quan thuế đã góp phần giảm thời gian, chi phí cho DN, hạn chế các hành vi gian lận về hoá đơn. Bên cạnh đó, khách hàng có thể truy cập vào website của bên bán để xem và tải hóa đơn khi cần, do đó không phải lưu trữ, bảo quản. Đối với DN sử dụng hóa đơn điện tử có mã xác thực của cơ quan thuế, ưu điểm dễ nhận thấy là không phải làm thủ tục đăng ký mẫu hóa đơn, rút ngắn thời gian thực hiện thông báo phát hành hóa đơn, sử dụng ngay hóa đơn khi đăng ký. 

Mặc dù đã đem lại những kết quả tích cực, song hành lang pháp lý hiện hành về hoá đơn (Nghị định số 51/2010/NĐ-CP và Nghị định 04/2014/NĐ-CP về hoá đơn) sau 7 năm đã bộc lộ những hạn chế. Đó là, quy định về in, phát hành, sử dụng hóa đơn được xây dựng chủ yếu để áp dụng quản lý đối với hóa đơn giấy đã không còn phù hợp trong bối cảnh triển khai thủ tục hành chính điện tử. Theo đó, 2 nghị định này chưa tạo điều kiện pháp lý đầy đủ cho việc triển khai rộng rãi HĐĐT trong bối cảnh phát triển mạnh mẽ của thương mại điện tử, cách mạng công nghiệp lần thứ 4. Ngoài ra, việc sử dụng hoá đơn giấy phổ biến đã tạo kẽ hở để một số đối tượng lợi dụng sự thông thoáng của chính sách, để thành lập nhiều DN, hoặc mua lại DN nhằm mua bán hoá đơn và gian lận tiền hoàn thuế.

Để khắc phục những bất cập này, Bộ Tài chính đã đề xuất ban hành nghị định quy định về HĐĐT khi bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ. Việc ban hành nghị định về hóa đơn điện tử sẽ đảm bảo các yêu cầu về cải cách thủ tục hành chính thuế, hướng đến quản lý hóa đơn thống nhất, dễ thực hiện hơn, đồng thời hạn chế được việc sử dụng hóa đơn bất hợp pháp để gian lận, trốn thuế. 

DN, hộ cá nhân nào phải áp dụng hóa đơn điện tử? 

Theo đề xuất của Bộ Tài chính, các hộ, cá nhân kinh doanh có doanh thu năm trước liền kề từ một (01) tỷ đồng trở lên phải sử dụng hóa đơn điện tử. Ước tính, cả nước hiện có khoảng 110.000 hộ, cá nhân kinh doanh và 260.000 DN có doanh thu/năm trên 1 tỷ đồng. Riêng đối với hộ, cá nhân kinh doanh trong lĩnh vực nhà hàng, khách sạn, bán lẻ thuốc tân dược, bán lẻ hàng tiêu dùng, cung cấp dịch vụ trực tiếp đến người tiêu dùng có doanh thu năm trước liền kề từ một (01) tỷ đồng trở lên phải sử dụng hóa đơn điện tử có mã xác thực của cơ quan thuế, được khởi tạo từ máy tính tiền có kết nối với cơ quan thuế, hoặc được khởi tạo từ thiết bị thanh toán không dùng tiền mặt có kết nối với ngân hàng. Đối với hộ, cá nhân kinh doanh có doanh thu năm trước liền kề dưới một (01) tỷ đồng nếu có nhu cầu, có thể đăng ký sử dụng hóa đơn điện tử.

Khi bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ, người bán (trừ hộ, cá nhân kinh doanh nộp thuế theo phương pháp khoán có doanh thu năm dưới một (01) tỷ đồng) phải lập hóa đơn điện tử để giao cho người mua theo định dạng, chuẩn dữ liệu mà cơ quan thuế quy định và phải ghi đầy đủ nội dung, không phân biệt giá trị từng lần bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ. Việc đăng ký, quản lý, sử dụng hóa đơn điện tử trong giao dịch bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ phải tuân thủ các quy định của pháp luật về giao dịch điện tử, kế toán, thuế. Dữ liệu hóa đơn điện tử khi bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ sẽ dành phục vụ công tác quản lý thuế và cung cấp thông tin hóa đơn điện tử cho các tổ chức, cá nhân có liên quan. 

Việc cấp mã của cơ quan thuế trên hóa đơn điện tử dựa trên thông tin của DN, tổ chức kinh doanh, hộ, cá nhân kinh doanh lập trên hóa đơn. DN, tổ chức kinh doanh, hộ, cá nhân kinh doanh chịu trách nhiệm về tính chính xác của các thông tin trên hóa đơn. Đối với tổ chức, cá nhân ở những địa bàn khó khăn  hoặc không có điều kiện để thực hiện lập hóa đơn điện tử, cơ quan thuế có trách nhiệm hướng dẫn thực hiện việc khởi tạo để sử dụng hóa đơn điện tử, hoặc phải mua hoá đơn giấy do cơ quan thuế phát hành để quản lý, sử dụng (trong thời gian 18 tháng kể từ ngày nghị định này có hiệu lực thi hành).

Đại diện Bộ Tài chính cho biết, thực tế hiện nay các DN trong các lĩnh vực điện, viễn thông, hàng không, ngân hàng, bảo hiểm… đã thực hiện giao dịch điện tử với khách hàng. Chính vì vậy, Bộ Tài chính đề xuất để các DN này tiếp tục sử dụng hóa đơn điện tử.

Dự thảo nghị định cũng quy định khi áp dụng hóa đơn điện tử thì DN, hộ kinh doanh truy cập vào cổng thông tin điện tử của Tổng cục Thuế để đăng ký. Không áp dụng hình thức đăng ký thủ công bằng cách gửi văn bản giấy tới cơ quan thuế. Trong thời hạn 1 ngày, cơ quan thuế phải có phản hồi gửi DN.

Một vấn đề được các DN quan tâm đó là, nếu sử dụng hóa đơn điện tử sẽ phải phải giải trình thế nào khi bị kiểm tra hàng hóa lưu thông trên thị trường. Để giải quyết vấn đề này, dự thảo nghị định quy định, cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền truy cập vào cổng thông tin điện tử của Tổng cục Thuế để tra cứu thông tin về hóa đơn điện tử để phục vụ công tác quản lý, không yêu cầu cung cấp hóa đơn giấy.