Category Archive Tin tức

Avatar ByTamKhoa

Tích hợp thủ tục khởi sự kinh doanh, giảm thời gian, chi phí cho DN

Theo đánh giá tại Báo cáo của WB, chỉ số khởi sự kinh doanh của Việt Nam xếp thứ 115/190 nền kinh tế, giảm 11 bậc so với năm 2018 (xếp thứ 104/190), với tổng số 8 thủ tục phải thực hiện.

Tích hợp thủ tục khởi sự kinh doanh, giảm thời gian và chi phí cho doanh nghiệp, đây là yêu cầu được Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Mai Tiến Dũng đưa ra tại cuộc họp với các bộ, ngành, bàn về giải pháp cải thiện chỉ số khởi sự kinh doanh và chỉ số tiếp cận điện năng theo đánh giá tại Báo cáo Môi trường kinh doanh 2020 của Ngân hàng Thế giới, ngày 6/1.

Theo đánh giá tại Báo cáo này, chỉ số khởi sự kinh doanh của Việt Nam xếp thứ 115/190 nền kinh tế, giảm 11 bậc so với năm 2018 (xếp thứ 104/190), với tổng số 8 thủ tục phải thực hiện gồm đăng ký thành lập doanh nghiệp và công bố nội dung đăng ký doanh nghiệp trên Cổng thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia; làm dấu doanh nghiệp; thông báo mẫu dấu; mở tài khoản ngân hàng, đăng ký mua hóa đơn/sử dụng hóa đơn điện tử hoặc tự in hóa đơn; khai thuế môn bài; khai báo lao động; đăng ký bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cho người lao động.

Khi thực hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, người thành lập doanh nghiệp mặc dù đã thực hiện trực tuyến nhưng vẫn tiếp tục phải nộp hồ sơ giấy tới cơ quan đăng ký kinh doanh.

Luật Doanh nghiệp 2014 đã quy định “mở” cho doanh nghiệp trong việc có quyền tự quyết định số lượng, hình thức và nội dung con dấu. Tuy nhiên, doanh nghiệp vẫn phải thực hiện thông báo mẫu con dấu cho cơ quan đăng ký kinh doanh. Kết quả giải quyết của thủ tục này và giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp trở thành thành phần hồ sơ bắt buộc mà các ngân hàng thương mại yêu cầu doanh nghiệp phải cung cấp khi đăng ký mở tài khoản.

Cơ sở dữ liệu quốc gia về doanh nghiệp; cơ sở dữ liệu về bảo hiểm xã hội; thông tin, dữ liệu về lao động;… chưa được kết nối, tích hợp, chia sẻ với nhau. Thực trạng trên dẫn đến yêu cầu cung cấp thông tin của các cơ quan quản lý vẫn còn trùng lặp, rời rạc, chưa cắt giảm được các thủ tục doanh nghiệp phải thực hiện.

Các thông tin về lao động của doanh nghiệp do cơ quan lao động quản lý không được chia sẻ, kết nối với cơ quan quản lý về bảo hiểm. Do đó, việc quản lý tình hình sử dụng lao động và việc tuân thủ quy định về đóng, nộp bảo hiểm xã hội cho người lao động còn cát cứ.

Nhắc lại yêu cầu, tinh thần chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ trong việc quyết liệt cải cách, đặc biệt là về môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, Bộ trưởng Mai Tiến Dũng cho biết theo xếp hạng mới nhất của Ngân hàng Thế giới, môi trường kinh doanh của Việt Nam tuy có tăng điểm nhưng lại tụt 1 hạng, xếp 70 thế giới và thứ 5 trong ASEAN. Trong đó, chỉ số khởi sự kinh doanh của Việt Nam giảm 11 bậc so với năm 2018. Nghị quyết 02 năm 2020 của Chính phủ đặt mục tiêu nâng xếp hạng chỉ số này lên 10-15 bậc ngay trong năm nay.

“Từng bộ thì cải cách tốt nhưng liên bộ thì chưa tốt, còn tình trạng cát cứ, từ đó đặt ra vấn đề liên thông, kết nối, chuyển từ thủ tục giấy sang điện tử,” Bộ trưởng Mai Tiến Dũng phát biểu.

Bà Lan Anh, đại diện Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam, cho biết một trong những khuyến nghị lớn nhất đoàn công tác của Ngân hàng Thế giới đưa ra trong chuyến nghiên cứu về báo cáo môi trường kinh doanh vào tháng 12/2019 là việc tích hợp các thủ tục vào trong một cổng thông tin, thay vì doanh nghiệp phải đi lại và làm việc với từng cơ quan riêng lẻ.

Nếu tích hợp được cả các bước về đăng ký lao động, đăng ký bảo hiểm xã hội cùng với cổng thông tin về cấp mã số thuế và đăng ký doanh nghiệp sẽ là bước cải cách rất lớn.

Quan điểm của Cục Kiểm soát thủ tục hành chính (Văn phòng Chính phủ) cho thấy, hiện nay đã thực hiện việc liên thông cấp mã số doanh nghiệp và mã số thuế, cần tiếp tục liên thông cấp mã số bảo hiểm, đăng ký tài khoản ngân hàng cho doanh nghiệp.

Cục trưởng Cục Kiểm soát thủ tục hành chính Ngô Hải Phan đề nghị Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì phối hợp với Bảo hiểm xã hội Việt Nam và cơ quan có liên quan nghiên cứu, triển khai thực hiện, hoàn thành trước ngày 20/2/2020.

Ông cũng đề nghị Bảo hiểm Xã hội Việt Nam chủ trì thực hiện liên thông, tích hợp thủ tục khai báo lao động với thủ tục đăng ký bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, thất nghiệp; thông báo tăng, giảm lao động; bỏ quy định báo cáo 6 tháng và hàng năm về tình hình thay đổi về lao động.

Đại diện các bộ bày tỏ ủng việc việc liên thông, tích hợp dữ liệu. Riêng đại diện Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội giải thích rằng việc khai báo lao động không phải là một thủ tục như nhận định của Ngân hàng Thế giới, mà doanh nghiệp chỉ phải gửi một báo cáo tới cơ quan quản lý lao động.

Không đồng tình với giải thích này, nêu rõ thực tế Ngân hàng Thế giới vẫn coi đây là một thủ tục, Bộ trưởng Mai Tiến Dũng thẳng thắn “các ông nói là không phiền hà, nhưng ở địa phương, họ kiểm tra mà không đúng, như sử dụng nhiều hơn số lao động đã đăng ký, thì doanh nghiệp khổ lắm.”

Ông chỉ ra rằng biểu mẫu Thông tư 23/2014/TT-BLĐTBXH (về hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 23/2014/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về việc làm) quá phức tạp, không chỉ là đăng ký số lao động.

Biểu mẫu này yêu cầu doanh nghiệp khai trình sử dụng lao động ngay khi bắt đầu hoạt động, sáu tháng, một năm lại báo cáo một lần, giữa kỳ lại phải báo cáo tình hình thay đổi lao động…

“Như này thì doanh nghiệp kêu suốt ngày làm báo cáo, phòng tổng hợp của doanh nghiệp làm không xuể, làm cả đêm không xong là đúng rồi”, “sinh ra nhiều thủ tục là không ổn,” Bộ trưởng nói. Ông đặt vấn đề liệu có cắt giảm được thủ tục này không và đề nghị xem lại Thông tư 23 về vấn đề này.

Nghe đại diện Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội giải thích sắp tới sẽ thay đổi, Bộ trưởng Mai Tiến Dũng cho biết tới đây sẽ có mẫu biểu chung để triển khai, bên dưới chỉ việc áp vào luôn, không phải sinh thêm quy định.

Đại diện Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam thì cho rằng về khai trình lao động, lẽ ra phải kiến nghị sửa đổi thủ tục này ngay trong quá trình sửa đổi Bộ luật Lao động.

Hiện Bộ luật sửa đổi vẫn giữ nguyên quy định này, là vấn đề doanh nghiệp kêu nhiều, rất vướng. Tờ khai rất phức tạp, nếu doanh nghiệp chưa hoạt động thì không thể có lao động nào để đăng ký, không thể có hợp đồng, thông tin nào để tích hợp được. Vì vậy, cải thiện việc tích hợp khai trình lao động vào phần đăng ký kinh doanh trong quý 1/2020 là không khả thi, phải sửa Thông tư 23 sớm nhất có thể.

Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Vũ Đại Thắng đồng tình rằng sẽ coi việc khai báo này là một thành phần hồ sơ ngay từ khi đăng ký kinh doanh. Người thành lập doanh nghiệp sẽ cung cấp thông tin cho cơ quan đăng ký kinh doanh, không phải cung cấp thông tin cho cơ quan quản lý lao động nữa.

Các cơ quan và Bảo hiểm xã hội Việt Nam cũng đồng ý sẽ tích hợp thủ tục đăng ký bảo hiểm xã hội vào thủ tục đăng ký kinh doanh.

Kết luận cuộc họp, Bộ trưởng Mai Tiến Dũng nhấn mạnh cần phải cụ thể hóa yêu cầu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước và Thủ tướng về cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, cải cách mạnh mẽ hơn và thực chất, tinh thần là thay đổi những gì phức tạp, đưa mẫu chuẩn tích hợp lên dịch vụ công và doanh nghiệp chỉ cần làm theo mẫu đã ban hành.

Cùng với đó đẩy mạnh hóa đơn điện tử, thanh toán điện tử, đăng nhập một lần, liên thông kết nối, quyết tâm cùng các cơ quan nỗ lực giảm số thủ tục khởi sự kinh doanh từ 8 thủ tục xuống còn 4 thủ tục, tích hợp thủ tục, giảm thời gian và chi phí cho doanh nghiệp./.

Theo Thông tấn xã Việt Nam

Avatar ByTamKhoa

Trong quý I/2020 sẽ hoàn thành hợp nhất chi cục thuế khu vực

Chia sẻ tại buổi gặp mặt báo chí chiều 9/1, ông Cao Anh Tuấn – Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế cho biết, trong quý I/2020 sẽ hoàn thành việc sắp xếp chi cục thuế huyện thành chi cục thuế khu vực. Từ 711 chi cục thuế sẽ còn dưới 420 chi cục thuế, vượt chỉ tiêu cả số lượng và tiến độ đề ra.

Tiếp nhận thủ tục hành chính tại bộ phận “một cửa” Chi cục Thuế khu vực Nam Thanh – Hải Dương. Ảnh: N.M.

Theo ông Cao Anh Tuấn, thực hiện Quyết định số 41 của Thủ tướng chính phủ về sắp xếp, tổ chức bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực hiệu quả theo đúng tinh thần Nghị quyết số 18/TW, đến hết năm 2019 toàn ngành đã cắt giảm được 89 đầu mối cấp phòng, giảm 1.792 đầu mối cấp đội.

Về việc hợp nhất chi cục thuế cấp huyện thành chi cục thuế khu vực, thực hiện Quyết định số 520/QĐ-BTC của Bộ trưởng Bộ Tài chính và kế hoạch hợp nhất chi cục thuế cấp huyện thành chi cục thuế khu vực, Tổng cục Thuế đã triển khai sắp xếp, hợp nhất đối với 433 chi cục thuế cấp huyện để thành lập 206 chi cục thuế khu vực, giảm 227 chi cục thuế.

“Theo lộ trình đã được Bộ trưởng Bộ Tài chính phê duyệt, đến hết năm 2020, số chi cục thuế sẽ giảm từ 711 chi cục xuống còn 420 chi cục thuế. Tuy nhiên, Tổng cục Thuế sẽ triển khai sớm hơn kế hoạch đề ra, dự kiến trong quý I/2020 sẽ hoàn thành việc sắp xếp chi cục thuế. Đồng thời số chi cục thuế sẽ giảm còn dưới 420 chi cục thuế, giảm nhiều hơn so với kế hoạch đã đề ra” – ông Cao Anh Tuấn cho biết.

Cùng với việc sắp xếp, tinh gọn lại bộ máy cơ quan thuế, lãnh đạo Tổng cục Thuế cũng cho biết, Tổng cục Thuế đã cải cách về thể chế, trong đó xây dựng và hoàn thiện nhiều cơ chế chính sách liên quan đến lĩnh vực thuế.

“Thực hiện Nghị quyết số 02 của Chính phủ năm 2019 về việc tiếp tục cải cách thủ tục hành chính, cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, năm 2019 Tổng cục Thuế đã xây dựng và trình Quốc hội Luật Quản lý thuế sửa đổi; Nghị quyết của Quốc hội về khoanh nợ tiền thuế, tiền phạt chậm nộp, tiền chậm nộp đối với người nộp thuế không có khả năng nộp NSNN” – ông Tuấn nói.

Bên cạnh đó, Tổng cục Thuế cũng đã trình Bộ Tài chính, trình Chính phủ Đề án mở rộng cơ sở thuế và chống xói mòn nguồn thu NSNN. Xây dựng dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định 20/2017/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý thuế đối với doanh nghiệp có giao dịch liên kết. Trình Bộ Tài chính ban hành 6 thông tư sửa đổi, bổ sung về chính sách thuế theo chương trình xây dựng chính sách pháp luật của Bộ Tài chính./.

Avatar ByTamKhoa

In hóa đơn giả bị phạt tới 50 triệu đồng

(TBTCO) – Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với hành vi tự in hóa đơn giả và hành vi khởi tạo hóa đơn điện tử giả.
Ảnh minh họa

Đây là đề xuất của Bộ Tài chính tại dự thảo Nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính thuế, hóa đơn đang lấy ý kiến góp ý của nhân dân.

Dự thảo quy định rõ về xử phạt hành vi vi phạm quy định về tự in hóa đơn; khởi tạo hóa đơn điện tử; đăng ký sử dụng hóa đơn điện tử.

Cụ thể, phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng đối với một trong các hành vi tự in hóa đơn, khởi tạo hóa đơn điện tử không đủ hoặc không đúng nội dung hóa đơn theo quy định.

Phạt tiền từ 4.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng đối với một trong các hành vi: Tự in hóa đơn khi không đủ các điều kiện quy định; không đăng ký sử dụng hóa đơn điện tử trước khi sử dụng hóa đơn điện tử; đăng ký sai trường hợp sử dụng hóa đơn điện tử có mã hoặc không có mã của cơ quan thuế; sử dụng hóa đơn điện tử được khởi tạo từ máy tính tiền không có kết nối chuyển dữ liệu điện tử với cơ quan thuế…

Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với hành vi tự in hóa đơn giả (trừ trường hợp xác định do lỗi khách quan của phần mềm tự in hóa đơn) và hành vi khởi tạo hóa đơn điện tử giả.

Xử phạt hành vi vi phạm quy định về đặt in hóa đơn

Theo dự thảo, phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.500.000 đồng đối với bên đặt in và bên nhận in hóa đơn đối với hành vi đặt in hóa đơn mà không ký hợp đồng in bằng văn bản hoặc tổ chức nhận in hóa đơn tự in hóa đơn đặt in để sử dụng nhưng không có quyết định in hóa đơn của thủ trưởng đơn vị theo quy định.

Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng đối với hành vi đặt in hóa đơn khi cơ quan thuế đã có văn bản thông báo tổ chức, doanh nghiệp không đủ điều kiện đặt in hóa đơn, trừ trường hợp cơ quan thuế không có ý kiến bằng văn bản khi nhận được đề nghị sử dụng hóa đơn đặt in của tổ chức, doanh nghiệp.

Phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 45.000.000 đồng đối với hành vi cho, bán hóa đơn đặt in chưa phát hành cho tổ chức, cá nhân khác sử dụng.

Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với hành vi đặt in hóa đơn giả./.

Theo Chinhphu.vn
Avatar ByTamKhoa

Chi nhánh hạch toán phụ thuộc có phải khai thuế TNDN?

(TBTCO) – Theo quy định, chi nhánh là đơn vị phụ thuộc của doanh nghiệp (DN) , có nhiệm vụ thực hiện toàn bộ hoặc một phần chức năng của DN kể cả chức năng đại diện theo ủy quyền. Ngành, nghề kinh doanh của chi nhánh phải đúng với ngành, nghề kinh doanh của DN.
Ảnh minh họa.

Công ty TNHH Silver Mountain Logistics hoạt động trong lĩnh vực logistic, có trụ sở tại Hà Nội và chi nhánh hạch toán phụ thuộc ở TP. Hồ Chí Minh. Theo Điều 13 Thông tư số 78/2014/TT-BTC: “Số thuế thu nhập DN tính nộp ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi có cơ sở sản xuất hạch toán phụ thuộc được xác định bằng số thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) phải nộp trong kỳ nhân (x) tỷ lệ chi phí của cơ sở sản xuất hạch toán phụ thuộc với tổng chi phí của DN”.

Công ty TNHH Silver Mountain Logistics đề nghị cơ quan chức năng giải đáp, Chi nhánh của Công ty có phải là “cơ sở sản xuất” hay không? Công ty có phải phân bổ số thuế TNDN phải nộp cho hai địa phương trên không?

Về vấn đề này, Tổng cục Thuế trả lời như sau:

Khoản 1 Điều 45 Luật Doanh nghiệp số 68/2014/QH13 ngày 26/11/2014 quy định: “1. Chi nhánh là đơn vị phụ thuộc của DN, có nhiệm vụ thực hiện toàn bộ hoặc một phần chức năng của DN kể cả chức năng đại diện theo ủy quyền. Ngành, nghề kinh doanh của chi nhánh phải đúng với ngành, nghề kinh doanh của DN”.

Điều 16 Thông tư số 151/2014/TT-BTC ngày 10/10/2014 của Bộ Tài chính sửa đổi Điều 12 Thông tư số 156/2013/TT-BTC như sau:

“Điều 12. Khai thuế TNDN

1. Trách nhiệm nộp hồ sơ khai thuế TNDN cho cơ quan thuế

a) Người nộp thuế nộp hồ sơ khai thuế TNDN cho cơ quan thuế quản lý trực tiếp.

b) Trường hợp người nộp thuế có đơn vị trực thuộc hạch toán độc lập thì đơn vị trực thuộc nộp hồ sơ khai thuế TNDN phát sinh tại đơn vị trực thuộc cho cơ quan thuế quản lý trực tiếp đơn vị trực thuộc.

c) Trường hợp người nộp thuế có đơn vị trực thuộc nhưng hạch toán phụ thuộc thì đơn vị trực thuộc đó không phải nộp hồ sơ khai thuế TNDN; khi nộp hồ sơ khai thuế TNDN, người nộp thuế có trách nhiệm khai tập trung tại trụ sở chính cả phần phát sinh tại đơn vị trực thuộc.

d) Trường hợp người nộp thuế có sơ sở sản xuất (bao gồm cả cơ sở gia công, lắp ráp) hạch toán phụ thuộc hoạt động tại địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương khác với địa bàn nơi đơn vị đóng trụ sở chính thì khi nộp hồ sơ khai thuế TNDN, người nộp thuế có trách nhiệm khai tập trung tại trụ sở chính cả phần phát sinh tại nơi có trụ sở chính và nơi có cơ sở sản xuất hạch toán phụ thuộc.

…6. Trường hợp DN có cơ sở sản xuất (bao gồm cả cơ sở gia công, lắp ráp) hạch toán phụ thuộc hoạt động tại địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương khác với địa bàn nơi đơn vị đóng trụ sở chính thì khi nộp thuế TNDN, DN tại nơi đóng trụ sở chính có trách nhiệm nộp cả phần phát sinh tại nơi đóng trụ sở chính và nơi có cơ sở sản xuất hạch toán phụ thuộc”.

Điều 13 Thông tư số 78/2014/TT-BTC ngày 18/6/2014 của Bộ Tài chính hướng dẫn:

“Số thuế TNDN tính nộp ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi có cơ sở sản xuất hạch toán phụ thuộc được xác định bằng số thuế TNDN phải nộp trong kỳ nhân (x) tỷ lệ chi phí của cơ sở sản xuất hạch toán phụ thuộc với tổng chi phí của DN.

Tỷ lệ chi phí được xác định bằng tỷ lệ chi phí giữa tổng chi phí của cơ sở sản xuất hạch toán phụ thuộc với tổng chi phí của DN. Tỷ lệ chi phí được xác định như sau:

Tỷ lệ chi phí của cơ sở sản xuất hạch toán phụ thuộc = Tổng chi phí của cơ sở sản xuất hạch toán phụ thuộc/Tổng chi phí của DN…”.

Các quy định được trích dẫn nêu trên đã hướng dẫn cụ thể về khai thuế TNDN đối với trường hợp DN có đơn vị trực thuộc hạch toán độc lập, đơn vị trực thuộc nhưng hạch toán phụ thuộc hay cơ sở sản xuất. Đề nghị Công ty TNHH Silver Mountain Logistics căn cứ phương thức hoạt động thực tế của Chi nhánh, căn cứ quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành về thuế, liên hệ với cơ quan thuế địa phương để được hướng dẫn thực hiện theo đúng quy định.

Theo Chinhphu.vn
Avatar ByTamKhoa

Cộng đồng doanh nghiệp đánh giá cao các dịch vụ thuế điện tử

Việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) vào công tác quản lý thuế của ngành Thuế được cộng đồng doanh nghiệp (DN), người nộp thuế (NNT) cũng như các tổ chức quốc tế ghi nhận và đánh giá cao.
Hệ thống khai thuế điện tử đã được ngành Thuế triển khai tại 63/63 tỉnh, thành phố và 100% chi cục thuế trực thuộc. Ảnh: Tuấn Nguyễn

Cụ thể, đến nay 63/63 cục thuế địa phương đã có trang thông tin điện tử cung cấp đầy đủ thông tin liên quan đến lĩnh vực thuế phục vụ NNT. Điều này giúp cho ngành Thuế có thể đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến chính sách thuế đến với NNT được nhanh chóng và thuận tiện.

99,93% DN sử dụng dịch vụ khai thuế điện tử

Bà Hoàng Thị Lan An – Phó Vụ trưởng, Phó Trưởng Ban cải cách và hiện đại hóa, Tổng cục Thuế cho biết, trong những năm qua, ngành Thuế đã có nhiều nỗ lực và cố gắng thực hiện các nghị quyết của Chính phủ về đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính (TTHC), hiện đại hóa công tác quản lý thuế nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho NNT. Đây cũng là việc làm nhằm thực hiện Chiến lược cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2011 – 2020.

Cụ thể, (tại Quyết định 732) Thủ tướng Chính phủ đặt mục tiêu đến năm 2015, có 60% DN sử dụng các dịch vụ thuế điện tử; 50% DN đăng ký thuế, khai thuế qua mạng internet; 70% số NNT hài lòng với các dịch vụ mà cơ quan thuế cung cấp. Đến năm 2020, tối thiểu có 90% DN sử dụng các dịch vụ thuế điện tử; 65% DN đăng ký thuế, khai thuế qua mạng internet; 80% số NNT hài lòng với các dịch vụ mà cơ quan thuế cung cấp.

Đến cuối năm 2018, hệ thống khai thuế điện tử đã được triển khai tại 63/63 tỉnh, thành phố và 100% chi cục thuế trực thuộc. Đến nay, đã có 99,93% số DN đang hoạt động sử dụng dịch vụ khai thuế điện tử; số lượng hồ sơ khai thuế điện tử đã tiếp nhận trong năm 2019 là trên 11,8 triệu hồ sơ.

Cùng với đó, ngành Thuế cũng đã kết nối với các ngân hàng thương mại (NHTM) triển khai dịch vụ nộp thuế điện tử (NTĐT) bắt đầu từ năm 2013. Đến nay, ngành Thuế đã phát triển kết nối với 50 NHTM triển khai dịch vụ nộp thuế điện tử. 63/63 cục thuế đã được triển khai dịch vụ NTĐT và tuyên truyền, vận động DN tham gia sử dụng dịch vụ. Số lượng DN đã đăng ký tham gia sử dụng dịch vụ NTĐT với cơ quan thuế đạt tỷ lệ 98,19%. Số lượng DN hoàn thành đăng ký dịch vụ NTĐT với ngân hàng đạt 96,42% trên tổng số DN đang hoạt động.

Đáng chú ý, việc ngành Thuế triển khai dịch vụ hoàn thuế điện tử đã tạo thuận lợi cho cả NNT và cơ quan thuế. Theo đó, cơ quan thuế có cơ sở dữ liệu liên quan đến hồ sơ hoàn thuế một cách đầy đủ và kịp thời, cơ sở dữ liệu về hoàn thuế được liên kết với các dữ liệu tử khác mà cơ quan thuế đang quản lý.

DN chủ động trong hoạt động

Ghi nhận công tác cải cách TTHC đặc biệt là các dịch vụ thuế điện tử của ngành Thuế, bà Phạm Thị Nhung – Kế toán trưởng Công ty TNHH Ian Precision Việt Nam cho rằng, chưa bao giờ DN thực hiện pháp luật thuế lại được thuận lợi như bây giờ. Trước kia khi thực hiện pháp luật thuế, DN phải đi lại nhiều lần và mất khá nhiều thời gian để nộp và điều chỉnh hồ sơ thuế. Đến nay, hầu hết những hoạt động như kê khai thuế, nộp thuế, hoàn thuế đã được cơ quan thuế triển khai thực hiện bằng phương thức điện tử. Điều này đã tạo điều kiện rất thuận lợi cho DN.

“Đặc biệt, việc ngành Thuế triển khai dịch vụ hoàn thuế điện tử đã giúp DN có thể nộp hồ sơ nhanh chóng, nhận kết quả giải quyết hồ sơ, kết quả hoàn thuế hoặc tra cứu tình hình giải quyết hồ sơ hoàn thuế được thuận tiện ở mọi địa điểm chỉ cần máy tính có kết nối internet. Nhờ ứng dụng này, DN có thể chủ động, không phụ thuộc giờ làm việc hành chính hay ngày nghỉ, ngày lễ, không mất thời gian hay chi phí đi lại, chờ đợi… Đặc biệt hơn, việc hoàn thuế điện tử được nhanh chóng sẽ giúp các dòng vốn của DN được luân chuyển nhanh, qua đó giúp ổn định sức khỏe DN” – bà Nhung nhấn mạnh.

Ông Nguyễn Ngọc Sơn – Giám đốc Công ty TNHH Ngọc Sơn (Ninh Bình) cho biết, ngoài việc sử dụng các dịch vụ thuế điện tử, DN đã sử dụng hóa đơn điện tử (HĐĐT). Khi mới triển khai sử dụng bước đầu không tránh khỏi những khó khăn vướng mắc, tuy nhiên đến nay, HĐĐT mang lại rất nhiều lợi ích cho DN.

“Là DN hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh thương mại, với rất nhiều mặt hàng khác nhau, bình quân mỗi tháng DN phải xuất khoảng 700 đến 1.000 hóa đơn. Để xuất đủ 1.000 hóa đơn, DN phải bố trí 2 kế toán chuyên viết hóa đơn và làm các loại báo cáo liên quan đến hóa đơn. Từ khi chuyển sang sử dụng HĐĐT, DN đã giảm được 1 kế toán. Ngoài ra, HĐĐT còn giúp DN tiết giảm chi phí; giảm rủi ro khi sử dụng, lưu trữ hóa đơn…” – ông Sơn nói.

Mới đây, Tổng cục Thuế phối hợp với Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam tổ chức hội thảo công bố: “Báo cáo đánh giá cải cách TTHC thuế: Mức độ hài lòng của DN năm 2019”. Theo đó, kết quả đánh giá sự hài lòng của DN với cơ quan thuế là 7,79 điểm, tương đương gần 78%, tăng 3 điểm phần trăm so với cuộc khảo sát năm 2016 và tăng 7 điểm phần trăm so với năm 2014. Trong 9 thủ tục được khảo sát năm 2019 liệt kê, có 3 TTHC thuế được DN đánh giá là dễ và tương đối dễ dàng để thực hiện, cao nhất là nộp thuế đạt 98%; mua, đăng ký, báo cáo sử dụng hóa đơn thuế đạt 94%; khai thuế, khai quyết toán thuế đạt 92%.

Theo Thời Báo Tài Chính

Avatar ByTamKhoa

Sự tham gia lãnh đạo của phụ nữ là nhân tố không thể thiếu đối với sự phát triển

Thủ tướng nhấn mạnh điều này tại cuộc gặp mặt các lãnh đạo và đại biểu Quốc hội nữ vào chiều nay (20/11), tại trụ sở Chính phủ.
Thủ tướng gặp mặt lãnh đạo và đại biểu Quốc hội nữ –  Ảnh: VGP/Quang Hiếu

Tham dự gặp mặt có 3 Ủy viên Bộ Chính trị là nữ: Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân, Phó Chủ tịch thường trực Quốc hội Tòng Thị Phóng, Trưởng Ban Dân vận Trung ương Trương Thị Mai, cùng Phó Chủ tịch nước Đặng Thị Ngọc Thịnh.

Cùng dự còn có Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương Phạm Minh Chính; Bí thư Trung ương Đảng, Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Trần Thanh Mẫn; các Phó Thủ tướng Trương Hòa Bình, Vương Đình Huệ, Vũ Đức Đam, lãnh đạo một số bộ, ban, ngành.

Phát biểu tại cuộc gặp mặt, Thủ tướng nêu rõ, ngày nay, sự tham gia của phụ nữ vào vị trí lãnh đạo, quản lý, điều hành đang trở thành nhân tố không thể thiếu đối với sự phát triển của các quốc gia, các tổ chức, doanh nghiệp, cộng đồng… hướng tới văn minh, thịnh vượng.

Ở cấp độ toàn cầu, tại nhiều quốc gia, tổ chức quốc tế, phụ nữ đã được tin tưởng bầu vào những chức vụ cao, trọng trách lớn, như bà Angela Merkel, thủ tướng Cộng hòa liên bang Đức 4 nhiệm kỳ; bà Sophie Wilmes, nữ Thủ tướng đầu tiên của Bỉ (2019), bà Mette Frederiksen, Thủ tướng Đan Mạch (2019), bà Lagarde, nguyên Tổng giám đốc Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và bây giờ là Thống đốc Ngân hàng Trung ương châu Âu, bà Aung San Suu Kyi, Cố vấn Nhà nước Myanmar… Nhiều nhà lãnh đạo nữ với tố chất và bản tính mềm dẻo, khéo léo nhưng quyết đoán đã giải quyết những vấn đề lớn, quan trọng một cách linh hoạt và hiệu quả, mang lại lợi ích cho quốc gia dân tộc và đóng vai trò quốc tế.

Ở Việt Nam, bất kỳ thời đại nào cũng xuất hiện những nữ lãnh đạo lừng lẫy, những nữ anh hùng của dân tộc, có công lớn trong việc gìn giữ chủ quyền, độc lập dân tộc, xây dựng và phát triển đất nước. Đó là các Hai Bà Trưng, Lê Chân, Triệu Thị Trinh, Bùi Thị Xuân, Nguyễn Thị Minh Khai, Nguyễn Thị Định…

Hàng ngàn năm qua, người Việt chúng ta không bao giờ quên lời tuyên thệ của bà Triệu Thị Trinh cách đây 1.800 năm khi mới 19 tuổi: “Tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá kình ở Biển Đông, đánh đuổi quân Ngô, giành lại giang sơn, dựng nền độc lập, chứ không chịu khom lưng làm tì thiếp cho người”. Đó là một trong những tuyên ngôn tiêu biểu, đại diện cho trí tuệ, bản lĩnh, lòng yêu nước nồng nàn và phẩm giá cao quý của người phụ nữ Việt Nam. Đó là sức mạnh truyền thống của phụ nữ Việt Nam.

“Người ta nói phụ nữ là phái yếu, nhưng tôi nghĩ phụ nữ Việt Nam lại đặc biệt là những người nhẫn nại, can đảm, giàu trí tuệ cảm xúc, đức hy sinh và rất mạnh mẽ, nhất là mỗi khi đối diện với khó khăn, nghịch cảnh; thậm chí nhiều người trở thành tấm gương sáng cho nam giới học tập” Thủ tướng chia sẻ. Thủ tướng cho biết, gần đây ông có gửi thư động viên hai cháu có nghị lực phi thường: Cô bé Hoàng Oanh 13 tuổi, mẹ mất từ năm lên 6 tuổi, không có bố; bản thân lại mất một chân vì tai nạn giao thông nhưng đã nỗ lực vượt khó, tự lập vươn lên, là học sinh ngoan, giỏi liên tục nhiều năm; và em Thủy Tiên, sinh viên 19 tuổi của ĐH Ngoại thương Hà Nội, mặc dù bị ung thư nhưng tâm thế vô cùng lạc quan và mạnh mẽ, là nguồn sức mạnh tinh thần, là sự an ủi, động viên lớn của bố mẹ trong lúc khó khăn chứ không phải ngược lại.

Ảnh: VGP/Quang Hiếu

Thủ tướng cho biết, trong nhiệm kỳ này, lần đầu tiên, chúng ta có nữ Chủ tịch Quốc hội và có 3 Ủy viên Bộ Chính trị là nữ. Trong số gần 500 đại biểu Quốc hội, có trên 27% là đại biểu nữ, một tỉ lệ khá cao so với các quốc gia trong khu vực và trên thế giới. Ở cấp tỉnh có 7 Bí thư, 14 Phó Bí thư, 8 Chủ tịch, 31 Phó Chủ tịch HĐND, 18 Phó Chủ tịch UBND cùng nhiều nữ cán bộ đảm nhiệm các vị trí trọng trách ở các cơ quan Trung ương và địa phương. Chỉ số nữ làm chủ doanh nghiệp đạt 27,8% năm 2017, cao nhất khu vực Đông Nam Á và xếp thứ 19/54 trong bảng chỉ số xếp hạng. Theo Thủ tướng, đây là minh chứng sinh động cho công tác bình đẳng giới và vì sự tiến bộ của phụ nữ ở nước ta.

“Tôi biết nhiều nữ ĐBQH, nữ lãnh đạo, ngoài công việc bận rộn thì vẫn dành thời gian chăm lo cho gia đình và tham gia nhiều hoạt động cộng đồng, xã hội…”, Thủ tướng bày tỏ. Trên nghị trường, vai trò và đóng góp của các nữ ĐBQH cũng rất sôi nổi và quan trọng. Rất nhiều sáng kiến của nữ ĐBQH nêu trên diễn đàn Quốc hội được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ tiếp thu và thể chế hóa thành những quy định và chính sách.

Hơn 1/2 dân số Việt Nam là nữ, tương đương với 1/2 lực lượng lao động của cả nước. Vì vậy, việc phát huy vai trò phụ nữ có ý nghĩa rất quyết định đối với mục tiêu nâng cao năng suất lao động, xóa đói giảm nghèo, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các cộng đồng, giữa các vùng miền và địa phương cũng như tầm nhìn về một nước Việt Nam độc lập, tự cường và thịnh vượng vào năm 2045.

Thủ tướng khẳng định lại quan điểm, chúng ta phát triển bao trùm để không một người dân nào, đặc biệt là phụ nữ, trẻ em, bị bỏ lại phía sau. Là một nền kinh tế thị trường định hướng XHCN chúng ta không chỉ quan tâm đến tốc độ tăng trưởng kinh tế mà còn ý thức rất rõ yêu cầu nâng cao chất lượng phát triển, thúc đẩy tiến bộ, thực hiện công bằng xã hội, bảo đảm các quyền con người, trong đó đặc biệt quan tâm đến quyền lợi của phụ nữ và trẻ em, cho dù ở thành thị hay nông thôn, biên giới, hải đảo, người Kinh hay vùng đồng bào các dân tộc thiểu số…

Thủ tướng cho biết, sẽ sớm ban hành Chỉ thị về việc về tăng cường bảo vệ, chăm sóc và hỗ trợ trẻ em, đặc biệt là trẻ em gia đình khó khăn, làm những công việc có tính chất thương mại (ví dụ phục vụ quán ăn, bốc vác, làm thuê, v.v…). “Quyết tâm của Chính phủ là không để một trẻ nào phải lang thang kiếm sống để rồi bị lạm dụng, bị xâm hại… Chính phủ sẽ hành động kiên trì và quyết liệt, phối hợp cùng các bộ, ngành và địa phương để hiện thực hóa mục tiêu và quyết tâm này”, Thủ tướng khẳng định.

Nhân dịp này, Thủ tướng bày tỏ mong muốn với các nữ ĐBQH, các đồng chí nữ lãnh đạo luôn đồng hành, ủng hộ Chính phủ thực hiện các chiến lược, giải pháp, biện pháp cụ thể phát triển đất nước, đặc biệt đóng vai trò tích cực hơn trong việc thực hiện có hiệu quả các luật như Luật Phòng chống bạo lực gia đình, Luật Bình đẳng giới, Luật Hôn nhân và gia đình, Luật Trẻ em và pháp luật liên quan khác. Phát huy hơn nữa vai trò đề xuất chính sách, giám sát thực thi chính sách, pháp luật về các lĩnh vực then chốt như y tế, giáo dục, môi trường, an toàn vệ sinh thực phẩm, bảo đảm quyền cho phụ nữ, trẻ em.

Bên cạnh đó, đề xuất xây dựng hệ thống theo dõi, đánh giá, kiểm tra, tập trung vào những lĩnh vực nổi cộm xã hội quan tâm, nhất là các vấn đề các nữ đại biểu có sự thấu hiểu hơn và quan tâm đặc biệt như an toàn cho phụ nữ và trẻ em. Các đồng chí nữ đang giữ vai trò quản lý, điều hành tại cơ quan Trung ương, địa phương, doanh nghiệp, tổ chức, cộng đồng sẽ tiếp tục có những chương trình cụ thể, sáng kiến cụ thể để góp phần giải quyết những bài toán hóc búa xã hội đang đặt ra hiện nay cho chúng ta, Thủ tướng bày tỏ mong muốn.

Ảnh: VGP/Quang Hiếu

Đồng thời, Thủ tướng cũng yêu cầu các bộ ngành, chính quyền các địa phương, đơn vị liên quan có văn bản cung cấp đầy đủ thông tin, số liệu về các vấn đề các nữ đại biểu Quốc hội, HĐND quan tâm khi có yêu cầu.

Đề xuất sáng kiến hoàn thiện thể chế, luật pháp, chính sách về an toàn, an sinh cho phụ nữ và trẻ em và tổ chức thực thi thiết thực, hiệu quả.

Các bộ ngành, địa phương phải đẩy mạnh công tác phòng chống tệ nạn xã hội, phòng chống bạo lực trong gia đình, trong học đường, trong bệnh viện; xử lý nghiêm các hành vi vi phạm tới tính mạng, sức khỏe, danh dự của phụ nữ và trẻ em. Gia đình, nhà trường và xã hội cùng có trách nhiệm trong việc giáo dục những mầm non nên người có ích cho đất nước.

Thủ tướng kêu gọi các doanh nghiệp, các cá nhân, các tổ chức xã hội, các tổ chức quốc tế cùng đồng hành với Chính phủ, Quốc hội trong việc thực hiện các mục tiêu vì sự an toàn của phụ nữ và trẻ em, vì bình đẳng giới và phát triển bền vững.

“Châm ngôn có câu: Phía sau thành công của người đàn ông luôn có hình bóng người phụ nữ. Còn phía sau thành công của người phụ nữ, theo tôi, có lẽ cũng là người phụ nữ. Như thế, phụ nữ là những người rất nghị lực và mạnh mẽ. Người phụ nữ Việt Nam, càng đặc biệt nghị lực, mạnh mẽ”, Thủ tướng nói và kết thúc bài phát biểu của mình bằng lời dịch bài thơ của Maksim Gorky mà ông từng đọc tại cuộc đối thoại với Phụ nữ nhân Ngày Quốc tế phụ nữ (8/3/2017) “Đời vắng mẹ hiền, không phụ nữ. Anh hùng thi sĩ hỏi còn đâu”.

Ảnh: VGP/Quang Hiếu

Tại cuộc gặp mặt, các nữ đại biểu Quốc hội phát biểu, đánh giá cao công tác chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ thời gian qua, với kết quả tích cực về phát triển kinh tế-xã hội, trong đó 12/12 chỉ tiêu năm nay sẽ đạt và vượt. Các nữ đại biểu bày tỏ ấn tượng về việc Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ luôn cầu thị, lắng nghe, tiếp thu ý kiến của các nữ đại biểu, qua đó, “cho chúng tôi thêm niềm tin, bản lĩnh, thẳng thắn” trong thực hiện nhiệm vụ cử tri giao, như phát biểu của Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp của Quốc hội Lê Thị Nga.

Một số ý kiến đề xuất Chính phủ, Thủ tướng tiếp tục quan tâm việc tăng tỉ lệ phụ nữ là bộ trưởng, thứ trưởng trong nhiệm kỳ tới; tiếp tục quan tâm công tác bồi dưỡng cán bộ nữ dân tộc thiểu số; Chính phủ sớm có chương trình hành động, đưa các luật, đề án mà Quốc hội vừa thông qua đi vào cuộc sống như Bộ luật Lao động sửa đổi, Đề án tổng thể phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, vùng có điều kiện đặc biệt khó khăn…

Theo Chinhphu.vn

Avatar ByTamKhoa

Chưa bao giờ việc nộp thuế thuận lợi như hiện nay

Ngày 18/11 Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam phối hợp với Tổng cục Thuế tổ chức công bố kết quả khảo sát về mức độ hài lòng của doanh nghiệp với cải cách thủ tục hành chính thuế.
Thứ trưởng Bộ Tài chính Trần Xuân Hà phát biểu tại hội nghị. Ảnh: NM

Kết quả khảo sát cho thấy, có 78% doanh nghiệp hài lòng với cải cách thủ tục hành chính mà Tổng cục Thuế đã triển khai thời gian qua.

Cải cách thuế giúp cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh

Theo ông Đậu Anh Tuấn – Trưởng Ban pháp chế Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), qua khảo sát ý kiến của 1.727 doanh nghiệp với 5 nội dung là: Tiếp cận thông tin chính sách, pháp luật và thủ tục hành chính thuế; việc thực hiện các thủ tục hành chính thuế từ khâu đăng ký, thay đổi thông tin đăng ký thuế, khai thuế, khai quyết toán thuế, miễn giảm thuế và hoàn thuế; thanh, kiểm tra và giải quyết khiếu nại; sự phục vụ của công chức thuế; kiến nghị cải cách thuế trong thời gian tới. Kết quả chung đánh giá sự hài lòng của doanh nghiệp năm 2019 là 7,8 điểm, tương ứng với 78% doanh nghiệp hài lòng, tăng 3% so với năm 2016.

Đồng tình với kết quả trên, bà Nguyễn Minh Thảo – Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương cho biết, trong 4 năm gần đây điểm số về môi trường kinh doanh liên tục tăng, điều này cho thấy công tác cải cách thủ tục hành chính đã được các bộ, ngành thực hiện quyết liệt. Cũng theo bà Thảo, có hai chỉ số thành phần liên tục tăng điểm, có cải thiện vượt trội từ năm 2016 đến nay, đó là chỉ số tiếp cận điện năng và chỉ số nộp thuế. “Chỉ số tiếp cận điện năng sau 4 năm đang tăng 69 bậc, trong khi đó chỉ số nộp thuế tăng 58 bậc. Nếu như không có sự đóng góp của hai chỉ số này, tôi khẳng định môi trường kinh doanh sẽ không thể duy trì được thứ hạng tương đối ổn định như hiện nay” – bà Thảo nói.

Nói thêm về những cải cách của cơ quan thuế theo tinh thần Nghị quyết số 19 và nay là Nghị quyết số 02 của Chính phủ, bà Thảo cho biết, trong rất nhiều cuộc họp liên quan đến việc thực hiện 2 nghị quyết trên, cộng đồng doanh nghiệp đánh giá cao việc ngành Thuế áp dụng giao dịch điện tử trong khai và nộp thuế. “Khi chúng tôi làm việc với doanh nghiệp, nhiều ý kiến cho rằng đây là một trong những cải cách tuyệt vời trong những năm qua. Nhiều doanh nghiệp nói rằng chưa bao giờ việc thực hiện kê khai và nộp thuế lại thuận lợi như hiện nay” – bà Thảo nói.

Ông Nguyễn Chí Dũng – Trưởng phòng tư vấn thuế – Công ty TNHH Deloitte Việt Nam cũng cho rằng, thời gian qua Bộ Tài chính đã rất nỗ lực trong công tác cải cách thủ tục hành chính thuế, nhiều chính sách thuế đã được sửa đổi theo hướng tích cực. Ngành Thuế cũng đã thực hiện khai thuế qua mạng và nộp thuế điện tử, hoàn thuế điện tử, áp dụng hóa đơn điện tử… điều này đã được cộng đồng doanh nghiệp đánh giá cao.

Tiếp tục cải cách để phục vụ doanh nghiệp tốt hơn

Nói thêm về kết quả trên đây, ông Phi Vân Tuấn – Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế cho biết, để có được sự ghi nhận tích cực của cộng đồng doanh nghiệp, trong những năm qua, Tổng cục Thuế đã có những biện pháp chỉ đạo quyết liệt. “Chiến lược cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2011 – 2020 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đã đặt ra mục tiêu đến năm 2020 tối thiểu có 80% số người nộp thuế hài lòng với các dịch vụ mà cơ quan thuế cung cấp. Với kết quả năm nay, có thể nói rằng cơ quan thuế đã tiến gần đến mục tiêu chiến lược 2020 đã đặt ra” – ông Tuấn nói.

Đề cập đến những giải pháp sẽ tiếp tục triển khai trong thời gian tới, Thứ trưởng Bộ Tài chính Trần Xuân Hà cho biết, sau hội nghị này, Bộ Tài chính sẽ chỉ đạo Tổng cục Thuế, cũng như các cục thuế tiếp tục hoàn thành nhiệm vụ quản lý thu thuế, thu đúng thu đủ, chống thất thu ngân sách. Đảm bảo phát hiện, ngăn chặn và phòng ngừa những trường hợp trốn thuế, tránh thuế hay làm xói mòn cơ sở thuế. Thực hiện tốt công tác cải cách hành chính, nâng cao tinh thần thái độ phục vụ người dân, doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ thuế, trong đó tập trung hỗ trợ cho nhóm doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ, doanh nghiệp khởi nghiệp…

“Bộ Tài chính yêu cầu Tổng cục Thuế tiếp tục duy trì và cung cấp các dịch vụ thuế điện tử như: đăng ký, khai, nộp, hoàn thuế để giảm thời gian, công sức thực hiện cho doanh nghiệp. Áp dụng quản lý rủi ro để thanh tra, kiểm tra và xử lý kịp thời những trường hợp trốn thuế mà không làm phiền đến các doanh nghiệp tuân thủ tốt. Xây dựng cơ chế quản lý thuế công khai, minh bạch, tăng cường sự giám sát của người dân, doanh nghiệp với việc thực thi công vụ của cơ quan thuế, công chức thuế” – Thứ trưởng Trần Xuân Hà nói.

Lãnh đạo Bộ Tài chính cũng mong muốn, để tạo thủ tục hành chính thuế thuận lợi hơn nữa với người dân và doanh nghiệp, Bộ Tài chính mong muốn tiếp tục nhận được sự hỗ trợ của VCCI, cũng như các bộ, ngành tiếp tục hỗ trợ, giúp cho Bộ Tài chính, cũng như Tổng cục Thuế có được cái nhìn toàn diện hơn về những mặt đã đạt được, những tồn tại, hạn chế trong công tác quản lý thuế mà cơ quan thuế cần phải khắc phục; cũng như những nhu cầu, mong muốn, đòi hỏi của doanh nghiệp để cơ quan thuế tiếp tục cải cách, nhằm phục vụ cộng đồng, phục vụ doanh nghiệp được tốt hơn. “Chúng tôi coi đây chính là thước đo để đánh giá kết quả cải cách, chất lượng phục vụ của cơ quan thuế” – Thứ trưởng Trần Xuân Hà nói.

“Bộ Tài chính yêu cầu Tổng cục Thuế tiếp tục duy trì và cung cấp các dịch vụ thuế điện tử như: đăng ký, khai, nộp, hoàn thuế để giảm thời gian, công sức thực hiện cho doanh nghiệp. Áp dụng quản lý rủi ro để thanh tra, kiểm tra và xử lý kịp thời những trường hợp trốn thuế mà không làm phiền đến các doanh nghiệp tuân thủ tốt. Xây dựng cơ chế quản lý thuế công khai, minh bạch, tăng cường sự giám sát của người dân, doanh nghiệp với việc thực thi công vụ của cơ quan thuế, công chức thuế”. Thứ trưởng Bộ Tài chính Trần Xuân Hà

Theo Thời Báo Tài Chính

Avatar ByTamKhoa

Không còn quy định giảm thuế TNCN khi làm việc trong khu kinh tế

Cá nhân làm việc tại khu kinh tế không được giảm 50% thuế thu nhập cá nhân (TNCN) như trước đây kể từ ngày 10/7/2018 (ngày Nghị định số 82/2018/NĐ-CP có hiệu lực thi hành).
Dự án Laguna Lăng Cô.

Công ty TNHH Laguna (Việt Nam) được Ban quản lý Khu kinh tế Chân Mây – Lăng Cô (nay là Ban quản lý Khu Kinh tế, công nghiệp tỉnh Thừa Thiên – Huế) cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư lần đầu ngày 7/3/2007, điều chỉnh lần thứ 11 ngày 25/5/2019 trong đó có phần ghi nhận ưu đãi, hỗ trợ cho dự án Laguna Lăng Cô là “giảm 50% số thuế  TNCN phải nộp đối với người có thu nhập thuộc diện chịu thuế trực tiếp làm việc tại Khu kinh tế Chân Mây – Lăng Cô”.

Quy định trên là cụ thể hóa các quy định tại Quyết định số 04/2006/QĐ-TTg ngày 5/1/2006 của Thủ tướng Chính phủ, Nghị định số 29/2008/NĐ-CP ngày 14/3/2008 của Chính phủ (hiệu lực từ ngày 10/4/2008).

Tuy nhiên, Nghị định số 82/2018/NĐ-CP ban hành ngày 22/5/2018 không còn quy định về vấn đề miễn thuế TNCN. Theo đó, Cục Thuế tỉnh Thừa Thiên – Huế yêu cầu toàn bộ nhân viên thuộc diện thu nhập chịu thuế đang làm việc cho dự án Laguna Lăng Cô phải kê khai nộp thuế theo mức chung.

Theo Công ty TNHH Laguna (Việt Nam), yêu cầu nêu trên chưa hợp lý, với lý do, Khoản 3, Điều 34 Luật Thuế TNCN (có hiệu lực từ ngày 1/1/2009) nêu rõ, các ưu đãi về thuế TNCN được quy định tại các văn bản có hiệu lực trước ngày 1/1/2009 thì tiếp tục được hưởng ưu đãi.

Nghị định 82/2018/NĐ-CP không quy định việc không ưu đãi thuế TNCN đối với người làm việc trong khu kinh tế không làm mất đi quyền lợi hưởng ưu đãi về thuế của người lao động làm việc tại dự án Laguna Lăng Cô.

Mặt khác, theo Điều 13 Luật Đầu tư, trong trường hợp văn bản pháp luật mới quy định mức ưu đãi thấp hơn văn bản pháp luật cũ thì nhà đầu tư được quyền áp dụng các ưu đãi của văn bản pháp luật cũ.

Các ưu đãi mà nhà đầu tư được áp dụng theo điều này là các ưu đãi đã được ghi nhận trong nhiều loại văn bản trong đó có giấy chứng nhận đăng ký đầu tư.

Công ty TNHH Laguna (Việt Nam) đề nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét, giải đáp vướng mắc nêu trên.

Về vấn đề này, Tổng cục Thuế – Bộ Tài chính có ý kiến như sau:

Khoản 3, Điều 12 Quy chế hoạt động của Khu kinh tế Chân Mây – Lăng Cô, tỉnh Thừa Thiên – Huế ban hành kèm theo Quyết định số 04/2006/QĐ-TTg ngày 5/1/2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập và ban hành Quy chế hoạt động của Khu kinh tế Chân Mây – Lăng Cô quy định:

“Giảm 50% thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao, kể cả người Việt Nam và người nước ngoài làm việc tại Khu kinh tế Chân Mây – Lăng Cô”.

Khoản 3, Điều 34 Luật Thuế TNCN năm 2007 quy định:

“Những khoản thu nhập của cá nhân được ưu đãi về thuế quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật trước ngày luật này có hiệu lực thi hành thì tiếp tục được hưởng ưu đãi”.

Khoản 5, Điều 16 Nghị định số 29/2008/NĐ-CP ngày 14/3/2008 của Chính phủ quy định về khu kinh tế, khu công nghiệp và khu chế xuất quy định:

“Giảm 50% thuế thu nhập đối với người có thu nhập thuộc diện chịu thuế thu nhập, kể cả người Việt Nam và người nước ngoài làm việc tại khu kinh tế”.

Như vậy, căn cứ các quy định nêu trên, cá nhân làm việc trong Khu kinh tế Chân Mây – Lăng Cô tiếp tục được giảm 50% thuế TNCN theo quy định tại Nghị định số 29/2008/NĐ-CP.

Ngày 22/5/2018, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 82/2018/NĐ-CP quy định về quản lý khu công nghiệp và khu kinh tế có hiệu lực từ ngày 10/7/2018 (thay thế Nghị định số 29/2008/NĐ-CP). Nghị định số 82/2018/NĐ-CP không quy định giảm thuế TNCN đối với cá nhân làm việc tại khu kinh tế.

Cá nhân làm việc tại khu kinh tế không được giảm 50% thuế TNCN như trước đây kể từ ngày 10/7/2018 là ngày Nghị định số 82/2018/NĐ-CP có hiệu lực thi hành.

Khoản 2, Điều 13 Luật Đầu tư năm 2014 quy định:

“Trường hợp văn bản pháp luật mới được ban hành quy định ưu đãi đầu tư thấp hơn ưu đãi đầu tư mà nhà đầu tư được hưởng trước đó thì nhà đầu tư được tiếp tục áp dụng ưu đãi đầu tư theo quy định trước đó cho thời gian hưởng ưu đãi còn lại của dự án”.

Quy định về ưu đãi đầu tư tại Khoản 2, Điều 13 Luật Đầu tư năm 2014 nêu trên là áp dụng đối với nhà đầu tư.

Theo Chinhphu.vn
Avatar ByTamKhoa

Cá nhân được thuê xúc tiến đầu tư tại nước ngoài có phải nộp thuế?

Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ y tế Mednovum (TP. Hồ Chí Minh) dự định ký hợp đồng dịch vụ với một số cá nhân người Singapore, cư trú tại Singapore để thực hiện xúc tiến đầu tư và thương mại tại thị trường Singapore.
Ảnh minh họa.

Các cá nhân này sẽ tìm hiểu và báo cáo tình hình thị trường Singapore cho công ty, tìm kiếm khách hàng, quảng cáo, tiếp thị sản phẩm của công ty, mọi hoạt động, công việc đều được các cá nhân này thực hiện tại Singapore.

Công ty hiểu rằng, dịch vụ mà các cá nhân này cung cấp cho công ty không thuộc đối tượng chịu thuế theo quy định tại Khoản 4, Điều 2 Thông tư 103/2014/TT-BTC vì là người nước ngoài không cư trú tại Việt Nam thực hiện dịch vụ cho doanh nghiệp Việt Nam tại thị trường nước ngoài. Do đó, khi trả phí dịch vụ cho các cá nhân này, công ty không có nghĩa vụ khấu trừ thuế thu nhập cá nhân của các cá nhân này.

Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ y tế Mednovum hỏi, cách hiểu và áp dụng của công ty như trên có đúng quy định pháp luật Việt Nam hay không?

Trong trường hợp cách áp dụng nêu trên là đúng, công ty cần thực hiện thủ tục gì và theo quy định nào để thuộc đối tượng không áp dụng của Thông tư 103/2014/TT-BTC? công ty có cần nộp cho cơ quan thuế giấy tờ chứng minh cá nhân theo Khoản 4, Điều 2 Thông tư 103/2014/TT-BTC là cá nhân kinh doanh hay không?

Về vấn đề này, Tổng cục Thuế – Bộ Tài chính có ý kiến như sau:

Tại Điều 1 Chương I Thông tư 103/2014/TT-BTC ngày 6/8/2014 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện nghĩa vụ thuế áp dụng đối với tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh tại Việt Nam hoặc có thu nhập tại Việt Nam quy định về đối tượng áp dụng:

“Hướng dẫn tại Thông tư này áp dụng đối với các đối tượng sau (trừ trường hợp nêu tại Điều 2 Chương I):

1. Tổ chức nước ngoài kinh doanh có cơ sở thường trú tại Việt Nam hoặc không có cơ sở thường trú tại Việt Nam; cá nhân nước ngoài kinh doanh là đối tượng cư trú tại Việt Nam hoặc không là đối tượng cư trú tại Việt Nam (sau đây gọi chung là nhà thầu nước ngoài, nhà thầu phụ nước ngoài) kinh doanh tại Việt Nam hoặc có thu nhập phát sinh tại Việt Nam trên cơ sở hợp đồng, thỏa thuận, hoặc cam kết giữa nhà thầu nước ngoài với tổ chức, cá nhân Việt Nam hoặc giữa nhà thầu nước ngoài với nhà thầu phụ nước ngoài để thực hiện một phần công việc của hợp đồng nhà thầu”.

Khoản 4, Điều 2 Chương I Thông tư 103/2014/TT-BTC nêu trên quy định về đối tượng không áp dụng:

“4. Tổ chức, cá nhân nước ngoài thực hiện cung cấp dịch vụ dưới đây cho tổ chức, cá nhân Việt Nam mà các dịch vụ được thực hiện ở nước ngoài:

… – Quảng cáo, tiếp thị (trừ quảng cáo, tiếp thị trên internet);

… – Xúc tiến đầu tư và thương mại;

– Môi giới: Bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ ra nước ngoài”.

Căn cứ các quy định nêu trên, trường hợp công ty ký hợp đồng dịch vụ với một số cá nhân cư trú tại Singapore để xúc tiến đầu tư và thương mại tại Singapore, các cá nhân này sẽ tìm hiểu, báo cáo thị trường, tìm kiếm khách hàng, quảng cáo, tiếp thị sản phẩm của công ty tại thị trường Singapore (trừ quảng cáo, tiếp thị trên internet) thì không thuộc đối tượng áp dụng Thông tư 103/2014/TT-BTC.

Công ty cần có chứng từ chứng minh hoạt động thuê quảng cáo, tiếp thị, xúc tiến đầu tư và thương mại tại thị trường Singapore để phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh của công ty như: Hợp đồng dịch vụ ký với các cá nhân cư trú tại Singapore; báo cáo kết quả tìm hiểu, nghiên cứu thị trường, tìm kiếm khách hàng, quảng cáo, tiếp thị sản phẩm của công ty tại thị trường Singapore của các cá nhân theo nội dung hợp đồng đã ký kết; chứng từ chuyển tiền cho các cá nhân và các chứng từ khác có liên quan.

Theo Chinhphu.vn
Avatar ByTamKhoa

Luận giải ý nghĩa của quy định chuyển hộ kinh doanh nộp thuế khoán sang phương pháp kê khai

Liên quan đến mức thuế đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh, Luật Quản lý thuế năm 2019 sửa đổi bổ sung quy định, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh có quy mô về doanh thu, lao động đáp ứng từ mức cao nhất về tiêu chí của DN siêu nhỏ, thì nộp thuế theo phương pháp kê khai. Để hiểu rõ hơn về vấn đề này, Tạp chí Thuế đã có cuộc trao đổi với PGS, TS Nguyễn Thị Thanh Hoài, Phó trưởng Khoa Thuế và hải quan, Học viện Tài chính.

Tại Luật Quản lý thuế năm 2006, Chính phủ quy định các hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh nộp thuế theo phương pháp khoán thuế, tuy nhiên Luật Quản lý thuế năm 2019 đã bổ sung đối tượng hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh đáp ứng từ mức cao nhất trong tiêu chí về doanh thu và số lượng lao động của DN siêu nhỏ thì phải nộp thuế theo phương pháp kê khai. Bà có thể phân tích mục tiêu, ý nghĩa của quy định mới này?

Trong các thành phần kinh tế, hộ kinh doanh luôn là lực lượng đông đảo nhất của nền kinh tế Việt Nam, nhưng hoạt động còn manh mún, đóng góp vào NSNN còn thấp, chưa tương xứng với tiềm năng. Tuy nhiên, vẫn có một bộ phận hộ kinh doanh quy mô lớn với doanh thu từ 100 tỷ đồng đến 200 tỷ đồng/năm. Thậm chí, nhiều hoạt động kinh doanh trong các lĩnh vực cung cấp máy móc, thiết bị công nghệ cao, sản xuất kinh doanh đồ gỗ, cung cấp dịch vụ chăm sóc sắc đẹp… với quy mô lớn đã vượt quá mô hình hộ kinh doanh. Mặc dù vậy, các chủ thể này vẫn thực hiện nghĩa vụ với NSNN theo phương pháp thuế khoán mà không thực hiện sổ sách kế toán. Việc “núp bóng” ở mô hình hộ khoán dễ dẫn đến tình trạng trốn thuế, lợi dụng hóa đơn của hộ kinh doanh để tiêu thụ hàng hóa không có xuất xứ, hợp thức hóa đầu vào cho DN để trốn thuế TNDN, gây thất thu NSNN. Do đó, quy định tại Luật Quản lý thuế sửa đổi là “hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh có quy mô về doanh thu, lao động đáp ứng từ mức cao nhất về tiêu chí của DN siêu nhỏ theo quy định pháp luật về hỗ trợ DN nhỏ và vừa phải thực hiện chế độ kế toán và nộp thuế theo phương pháp kê khai”, theo tôi là hợp lý, vừa tạo cơ sở pháp lý để tăng cường quản lý hộ kinh doanh, vừa đảm bảo bình đẳng và minh bạch đối với các thành phần kinh doanh khác. Đồng thời, thúc đẩy quá trình chuyển đổi hộ kinh doanh có đủ điều kiện đăng ký thành lập DN.

Nhưng về nguyên tắc, chủ cơ sở kinh doanh hoàn toàn có quyền lựa chọn mô hình là hộ kinh doanh hoặc DN. Quan điểm của bà như thế nào về vấn đề này?

Nhà nước luôn có các chính sách khuyến khích người dân tham gia vào các hoạt động kinh tế, từ cá nhân kinh doanh, hộ kinh doanh đến DN tư nhân, công ty cổ phần, để thông qua đó, các cá nhân, tổ chức vừa mang lại lợi ích kinh tế cho mình, vừa tham gia thực hiện nghĩa vụ với NSNN. Tuy nhiên, quá trình hội nhập đang đòi hỏi Việt Nam phải có một đội ngũ DN đông về số lượng, mạnh về chất lượng, đủ sức cạnh tranh trên thị trường toàn cầu. Theo đó, cơ sở để xây dựng đội ngũ DN lớn mạnh đó chính là lực lượng hộ kinh doanh đông đảo hiện nay. Để thực hiện mục tiêu có ít nhất 1 triệu DN vào năm 2020 đặt ra tại Nghị quyết số 35/NQ-CP năm 2016, Chính phủ đã ban hành nhiều quy định khuyến khích và tạo điều kiện hỗ trợ DN nhỏ và vừa chuyển đổi từ hộ kinh doanh. Tuy nhiên, theo kết quả điều tra về khả năng chuyển đổi hộ kinh doanh lên DN do Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) thực hiện, chỉ có 17,8% số DN được điều tra thực hiện đăng ký, thành lập trên cơ sở hộ kinh doanh; 11,3% hộ kinh doanh đủ điều kiện chuyển đổi (có quy mô từ 10 lao động trở lên) nhưng vẫn chưa thực hiện đăng ký thành lập DN. Do đó, rất cần thiết có thêm quy định pháp lý về thực hiện nghĩa vụ với NSNN nhằm đặt ra yêu cầu cụ thể đối với hộ kinh doanh đạt đủ điều kiện hoạt động như mô hình DN. Qua đó, cùng với các hoạt động tuyên truyền, các hộ kinh doanh sẽ nâng cao ý thức chấp hành pháp luật và tự giác thực hiện nghĩa vụ với NSNN. 

Theo bà, quy định mới tại Luật Quản lý thuế phù hợp như thế nào so với thực tiễn quản lý hộ kinh doanh hiện nay?

Hiện nay, công tác quản lý thuế đối với hộ kinh doanh còn gặp nhiều khó khăn. Vẫn còn tình trạng thất thu về đối tượng, doanh số, dẫn tới số thu thuế chưa tương xứng với tiềm lực phát triển của lĩnh vực này. Trên thực tế, có khá nhiều hộ kinh doanh quy mô lớn, nhưng nộp thuế theo phương pháp khoán, không những không đảm bảo thu thuế sát với tình hình kinh doanh, mà còn ảnh hưởng đến tính công bằng về nghĩa vụ thuế giữa các thành phần kinh tế. 

Do vậy, để hạn chế tình trạng thất thu thuế, đảm bảo xác định nghĩa vụ thuế sát hơn với tình hình kinh doanh thực tế, thì điều quan trọng là cần phân loại hộ kinh doanh để có cách thức quản lý phù hợp. Đối với hộ kinh doanh quy mô lớn, cần theo dõi tình hình kinh doanh, mở sổ sách, thực hiện chế độ kế toán và sử dụng hoá đơn chứng từ để chuyển đổi nộp thuế theo kê khai. Đối với hộ kinh doanh quy mô nhỏ, thì vẫn tiếp tục nộp thuế theo phương pháp khoán. 

Bà đánh giá như thế nào về hiệu quả của quy định mới tại Luật Quản lý thuế khi đi vào thực hiện?

Tâm lý của hộ kinh doanh luôn muốn nộp thuế theo phương pháp khoán, do vậy việc triển khai quy định này không hề đơn giản. Để có thể thực hiện hiệu quả thì Chính phủ và Bộ Tài chính cần sớm cụ thể hóa nội dung này trong nghị định và thông tư hướng dẫn Luật Quản lý thuế. 

Về phía cơ quan thuế, cần chú trọng công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách cho các hộ kinh doanh, đặc biệt là các hộ đáp ứng yêu cầu về doanh thu, lao động thuộc đối tượng phải thực hiện chế độ kế toán và phải nộp thuế theo kê khai để họ biết và thực hiện. Ngoài ra, cơ quan thuế quan tâm hơn nữa đến công tác cung cấp thông tin pháp lý, giải đáp chính sách thuế, miễn phí lắp đặt, cài đặt phần mềm kế toán. Song song với đó, cũng cần giám sát tình hình hoạt động của hộ kinh doanh và có chế tài xử phạt nghiêm minh đối với các trường hợp không tuân thủ. 

Xin cảm ơn bà!

Theo Tạp Chí Thuế